Các hoạt động

Hỗ trợ người khuyết tật

Bối cảnh

Khoảng 7,8% người Việt Nam là người khuyết tật (NKT) và khoảng 75% NKT sống ở khu vực nông thôn. Việt Nam đã phê chuẩn Công ước Quốc tế về Quyền của Người khuyết tật. Theo đó, Chính phủ cam kết bảo đảm quyền của NKT dựa trên nguyên tắc bình đẳng về cơ hội và phát triển hòa nhập trong một xã hội không rào cản. Để thực hiện các quyền này, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật người khuyết tật. Trên cơ sở này, trong 10 năm qua, Chính phủ đã xây dựng và ban hành nhiều chính sách hỗ trợ NKT, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, giáo dục, an sinh xã hội và đào tạo nghề.

Vấn đề

Tuy nhiên, nhiều NKT vẫn bị tách biệt trong cuộc sống. Khoảng 35% trẻ khuyết tật ở độ tuổi tiểu học chưa từng bao giờ đi học trong khi con số này ở nhóm trẻ không khuyết tật là 3%. Vẫn còn khoảng 42% NKT có thể làm việc và mong muốn được làm việc nhưng không thể tìm được việc làm; con số này ở nhóm người không khuyết tật là 4%. NKT đối mặt với nhiều thách thức trong phát triển kinh tế – xã hội và trong cuộc sống khi họ không thể tiếp cận được các phương tiện giao thông hoặc công trình công cộng; không thể tham gia đầy đủ vào các hoạt động xã hội do ít tiếp cận được với thông tin và truyền thông; không thể hưởng lợi từ quá trình phát triển vì tiếng nói của họ không được lắng nghe và nhu cầu của không được tính đến trong thiết kế các chương trình. Nguyên nhân là do năng lực hạn chế của các bên cung cấp dịch vụ công trong quá trình thực thi chính sách và của cả NKT trong việc lên tiếng, thể hiện nhu cầu trong khi kỳ thị và phân biệt đối xử đối với NKT vẫn còn tồn tại.

Vai trò của MCNV

Nhiều năm qua, MCNV đã và đang đầu tư nhiều nguồn lực để thực hiện các hoạt động hỗ trợ hòa nhâp cho NKT ở Việt Nam. Chương trình hỗ trợ NKT được bắt đầu với các hoạt động Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng (CBR) như là một phần trong Chương trình phát triển sức khỏe do cộng đồng quản lý (CMHD) ở tỉnh Quảng Trị vào đầu những năm 1990. Sau đó, các hoạt động được mở rộng và triển khai tại các tỉnh Đăk Lăk (1998), Cao Bằng (2001), Phú Yên (2002), Khánh Hòa (2005) và Điện Biên (2014). Hiện tại, Chương trình hỗ trợ NKT của MCNV có bốn hợp phần, gồm:

  • Phục hồi chức năng y tế
  • Giáo dục hòa nhập
  • Tăng thu nhập
  • Tăng cường năng lực cho NKT và các tổ chức của NKT

Chương trình hỗ trợ NKT được thực hiện với sự hợp tác của các đối tác nhà nước từ cấp trung ương đến địa phương, dựa trên hệ thống dịch vụ công có sẵn. MCNV luôn luôn huy động sự tham gia của NKT và gia đình trong suốt quá trình thực hiện chương trình. Chương trình chú trọng vào việc tạo ra các dịch vụ mới phù hợp với hoàn cảnh văn hóa và nguồn lực của địa phương nhằm mục đích tạo ra những thay đổi bền vững về chất lượng cuộc sống của NKT. Chương trình cũng tập trung nhiều nguồn lực để xây dựng năng lực cho các bên liên quan từ cấp độ cá nhân, bao gồm cả NKT, đến cấp độ thể chế/mạng lưới. Tất cả những hỗ trợ cho NKT đều dựa trên nhu cầu thực tế của bản thân NKT và được cung cấp, quản lý với sự tham gia đầy đủ của NKT.

Kết quả đạt được

Hơn 20.000 NKT, trẻ em khuyết tật và gia đình của NKT đã được hưởng lợi từ các hoạt động hỗ trợ về y tế, giáo dục, tài chính và xã hội của chương trình. Khoảng 60% NKT cải thiện được tình trạng tự lập của mình trong cuộc sống hằng ngày nhờ vào các hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng tại nhà và dịch vụ chuyển tuyến. 70% NKT nghèo thoát khỏi tình trạng nghèo nhờ vào các hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật cho các hoạt động tăng thu nhập. 88% trẻ khuyết tật ở tuổi đi học trên địa bàn dự án được tiếp cận với giáo dục phù hợp. Tổng cộng có 47 Hội NKT được hỗ trợ để góp tiếng nói và bày tỏ quan điểm của NKT thông qua kênh truyền thông và các cuộc đối thoại về chính sách và dịch vụ ở tại cộng đồng của họ. Những Hội NKT này đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cho 55% thành viên của mình tham gia vào các hoạt động thể thao và xã hội ở tất cả các cấp. Mô hình CBR do MCNV khởi xướng được Bộ Y tế ghi nhận, đưa vào chính sách về phục hồi chức năng và được các địa phương khác học tập và áp dụng.

Định hướng tương lai

MCNV sẽ áp dụng các bài học kinh nghiệm hỗ trợ NKT cho những địa bàn mới, ưu tiên khu vực Tây Bắc và Đồng bằng sông Cửu Long. Chương trình sẽ chú trọng vào việc thúc đẩy mối quan hệ hợp tác giữa các bên liên quan để lồng ghép vấn đề khuyết tật vào các chương trình phát triển chung của cộng đồng xã hội. Các dự án cụ thể sẽ được thiết kế cho NKT và các tổ chức, hội của NKT nhằm tăng cường năng lực vận động chính sách về quyền của NKT. MCNV cũng sẽ củng cố mối quan hệ hợp tác với Bộ Y tế và các Bộ ngành liên quan trong việc xây dựng nguồn nhân lực liên quan đến khuyết tật, đồng thời cũng sẽ thu thập bằng chứng về chi phí – hiệu quả của các can thiệp để làm căn cứ vận động chính sách.

Read more

Sức khỏe sinh sản và tình dục cho trẻ vị thành niên dân tộc thiểu số

Bối cảnh

Hướng Hóa là một huyện miền núi ở tỉnh Quảng Trị, giáp giới với Lào. Huyện Hướng Hóa có dân số gần 80.000 dân, trong đó hơn 50% là dân tộc thiểu số Bru Vân Kiều và Pa Cô. MCNV hiện đang thực hiện dự án ở các thôn, bản thuộc 5 xã nằm sát biên giới. Dân số ở khu vực này là 12.353 người, trong đó có 1.999 hộ nghèo (16.2%) và 9.835 người dân tộc thiểu số (79.6%)

Ngôn ngữ của đồng bào dân tộc Bru Vân Kiều và Pa Cô không có chữ viết. Cũng vì lẽ đó, người dân khó tiếp cận các nguồn thông tin, còn chất lượng dịch vụ y tế thì không cao. Họ chủ yếu trồng chuối, sắn, ngô, lúa trên đồi núi có chất lượng đất kém. Họ làm việc chăm chỉ nhưng không có đủ thu nhập để có thể trang trải các chi phí về chăm sóc y tế và giáo dục. Giống như nhiều nhóm dân tộc thiểu số khác, người Bru Vân Kiều và Pa Cô chịu ảnh hưởng của nghèo đói và bị tụt hậu trong quá trình phát triển.

Vấn đề

Theo phong tục tập quán địa phương, trẻ vị thành niên Bru Vân Kiều và Pa Cô được cha mẹ cho phép tự do kết bạn trai gái từ khá sớm. Các em cũng thường lập gia đình khi còn rất trẻ, đặc biệt nhiều em gái lấy chồng khi chưa đến tuổi 18. Trẻ vị thành niên có xu hướng quan hệ tình dục sớm, nhưng lại thiếu kiến thức về sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục. Điều này khiến các em dễ mắc các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục và có thai ngoài ý muốn. Một mặt sức khỏe sinh sản và tình dục không thực sự được giảng dạy ở trường học, mặt khác trẻ vị thành niên khó tiếp cận với các nguồn thông tin có tính giáo dục về lĩnh vực này thông qua các kênh khác. Kể cả khi nhận thức rõ các vấn đề về sức khỏe sinh sản và tình dục, các trẻ vị thành niên cũng tránh đề cập đến vì lí do quá “nhạy cảm” hoặc quá “riêng tư”.

Một khảo sát với trẻ vị thành niên trong vùng năm 2013 cho thấy có đến 56% trẻ vị thành niên dưới 16 tuổi đã từng quan hệ tình dục, 78% không biết tự bảo vệ để phòng tránh các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, 14% số em gái có thai ngoài ý muốn, và 97% thiếu các kiến thức cơ bản về ngừa thai.

Vai trò của MCNV

Năm 2015, MCNV triển khai một dự án để giúp giải quyết thực trạng này. MCNV tổ chức các hội thảo với các nhóm thanh thiếu niên và y tế thôn bản (YTTB) tích cực ở 2 xã trong vùng. Các hội thảo này giúp các thanh thiếu niên có được những kiến thức cơ bản về sức khỏe sinh sản và tình dục vị thành niên, cùng nhau phân tích những vấn đề nổi cộm của các em, xây dựng giải pháp và thống nhất kế hoạch hành động cụ thể. Các thanh thiếu niên chia sẻ các câu chuyện thực tế mà các em biết ở cộng đồng mình, về những hậu quả đáng tiếc đã xảy ra liên quan đến chủ đề sức khỏe sinh sản và tình dục. Với sự hỗ trợ của MCNV và YTTB, các thanh thiếu niên xây dựng các câu chuyện thành những tiểu phẩm kịch bóng mờ và múa rối. Sau đó, các em trình bày những tiểu phẩm này ở cộng đồng mình để truyền thông tương tác với mọi người về những khía cạnh khác nhau . Các buổi truyền thông được các thanh thiếu niên tổ chức định kỳ hàng tháng và có sự tham gia của các nhóm sở thích khác ở cộng đồng, như nhóm hip-hop, nhóm hát RAP, CLB bóng đá, …

Bên cạnh đó, một số thanh thiếu niên đã tình nguyện bán bao cao su tại nhà mình, điều này giúp những người trẻ tuổi cảm thấy thoải mái hơn thay vì tìm đến các cơ sở y tế. Các thanh thiếu niên cũng sử dụng phương pháp kể chuyện ảnh, chuyển thể các câu chuyện ảnh sang dạng hoạt họa và chia sẻ trên các trang mạng xã hội.

Kết quả đạt được

Một trong những thay đổi quan trọng nhất là sự thay đổi về nhận thức, thái độ và hành vi của trẻ vị thành niên về các vấn đề sức khỏe sinh sản và tình dục của mình. Các em cũng mạnh dạn chia sẻ với bạn bè, gia đình và những người xung quanh để góp phần nâng cao nhận thức của mọi người. Đây là điều mà trước đây các em không bao giờ dám làm.

Các em thanh thiếu niên ở địa bàn được can thiệp cảm thấy bản thân có vai trò và động lực để đóng góp cho sự phát triển của cộng đồng mình. Các em cũng trở nên đoàn kết, tương trợ lẫn nhau hơn trước. Trước đây, đã từng có những mâu thuẫn sâu sắc giữa các nhóm thanh thiếu niên ở các xã khác nhau trong vùng, điều đó khiến các em không dám đi từ xã này đến xã khác vì sợ bị đánh lộn. Bây giờ, nhờ cùng nhau tham gia các hoạt động của dự án, các em đã trở nên thân thiện, đoàn kết với nhau chứ không còn giữ thái độ thù địch. Đây có thể được xem là một giá trị gia tăng của dự án.

Chúng tôi sẽ tiếp tục mở rộng phạm vi can thiệp, giám sát và đánh giá để biết thêm những thay đổi khác về kiến thức, thái độ và hành vi của thanh thiếu niên.

Định hướng tương lai

MCNV sẽ duy trì các hoạt động dự án ở 2 xã A Túc và A Xing, huyện Hướng Hóa, và tìm cách nhân rộng mô hình đến các xã lân cận trong năm 2017 và 2018 để đem lại lợi ích cho khoảng 1.300 trẻ vị thành niên trong vùng. Chúng tôi sẽ tăng cường phát huy vai trò của các nhóm phụ huynh và trường học (bậc THPT và THCS) góp phần thay đổi hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản và tình dục vị thành niên. Chúng tôi cũng sẽ phối hợp với các đơn vị y tế và Hội Y tế thôn bản để áp dụng các sáng kiến truyền thông trực tuyến cho trẻ vị thành niên.

Các bài học kinh nghiệm của dự án này sẽ được tài liệu hóa và chia sẻ với các ngành y tế địa phương và một số tổ chức có liên quan như Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc, Liên minh Barefoot Guide, ARROW, ADF, WGNRR.

Read more

Tín dụng vi mô và bảo hiểm thu nhập

Tài chính vi mô – Một động lực bền vững cho phát triển

Impacts of microfinance to the poor

Tác động của  TCVM đến người nghèo

Trọng tâm của Mục tiêu phát triển bền vững thiên niên kỷ (SDGs) là cam kết “Xóa nghèo ở mọi nơi, dưới mọi hình thức và khía cạnh vào năm 2030”.

Read more

Phát triển hoạt động trị liệu tại Việt Nam

Bối cảnh

Việt Nam đã hoạt động trong lĩnh vực phục hồi chức năng cho người khuyết tật (NKT) hơn 40 năm qua, tuy nhiên NKT rất hiếm khi nhận được sự hướng dẫn để họ có thể làm được các công việc hàng ngày. Làm thế nào để họ tự nấu ăn, giặt quần áo, chăm sóc bản thân với tình trạng khuyết tật của mình? Làm sao để họ có thể học hành hay làm việc được? Kỹ thuật viên vật lý trị liệu không giúp họ giải quyết được những vấn đề này mà đây chính là nhiệm vụ của kỹ thuật viên hoạt động trị liệu (HĐTL). Trong số những người cần sự giúp đỡ đặc biệt của kỹ thuật viên HĐTL có bệnh nhân bị tổn thương tủy sống. Việt Nam chưa có số liệu chính xác nhưng tại hai bệnh viện lớn nhất toàn quốc, mỗi năm có tới 2.000 bệnh nhân tổn thương tủy sống được điều trị và sau đó họ được chuyển về nhà mà không có sự trợ giúp tiếp theo.

Tại Việt Nam, MCNV luôn quan tâm đến việc làm thế nào để NKT thực hiện được các hoạt động về cả thể chất lẫn tinh thần trong cuộc sống hàng ngày của họ. Với NKT sử dụng chân giả, làm sao để họ đi được lên tầng trên của một ngôi nhà nếu chỉ có một cái cầu thang lung lay để đi lên? Làm sao để NKT sắp xếp cuộc sống hàng ngày khi họ bị trầm cảm? Những ví dụ đó cho thấy nhu cầu rất lớn về HĐTL trên phạm vi toàn quốc. Bộ Y tế cũng đã nhấn mạnh tầm quan trọng của HĐTL và định hướng đến năm 2020, các Bệnh viện Phục hồi chức năng cần có Khoa HĐTL, các Bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh cần có nhóm HĐTL.

Vai trò của MCNV

Cho đến nay ở Việt nam chưa có đào tạo HĐTL chuyên nghiệp. HĐTL mới chỉ có ở một số ít bệnh viện lớn và thường có sự hỗ trợ của các sinh viên hoặc kỹ thuật viên HĐTL người nước ngoài. Câu hỏi “bệnh nhân của tôi sẽ ra sao khi họ trở về nhà?” ngày càng được các nhân viên y tế nhiều nơi đặt ra. Một nghiên cứu của MCNV trong hệ thống y tế đã chỉ ra rằng đào tạo HĐTL là nhu cầu cấp thiết ở Việt Nam. Để đáp ứng nhu cầu cấp thiết về HĐTL, năm 2015 MCNV đã khởi xướng Dự án Phát triển đào tạo HĐTL chuyên nghiệp đầu tiên tại Việt Nam cùng Tổ chức Handicap International, một tổ chức NGO về trợ giúp NKT với sự tài trợ của tổ chức USAIDS. Điều này rất quan trọng trong việc cải thiện chất lượng sống của NKT, đặc biệt là tăng cường sự tham gia của họ trong công việc gia đình và xã hội. .

Hoạt động đang được triển khai

Trong khuôn khổ dự án, bốn giảng viên đại học Việt Nam đã được gửi sang Ấn Độ học khóa định hướng HĐTL 1 tháng tại Ấn Độ hiện đang xây dựng chương trình đào tạo HĐTL chuyên nghiệp tại Việt Nam bao gồm: khung đào tạo và chương trình đào tạo chi tiết. Năm sinh viên Việt Nam đang theo học chương trình đào tạo cử nhân và thạc sỹ HĐTL tại Ấn Độ. Khi trở về Việt Nam, họ sẽ giảng dạy các môn HĐTL tại trường đại học nơi họ công tác. Các mảng hoạt động trọng tâm khác của dự án là xây dựng các đơn vị hỗ trợ phục hồi chức năng tập trung vào HĐTL cho NKT tại 2 xã của Thành Phố Hồ Chí Minh và tỉnh Hải Dương.

Trong năm nay, MCNV hỗ trợ năm sinh viên Việt Nam tham gia chương trình đào tạo Cử nhân HĐTL tại Đại học tổng hợp Manipal ở Ấn Độ. Chương trình học này là một thách thức đối với các em với những bài giảng bằng tiếng Anh, với cuộc sống ở môi trường khác biệt, xa gia đình và bạn bè, nhưng các em rất nhiệt tình và lạc quan về cơ hội để thành công. MCNV lựa chọn Đại học tổng hợp Manipal để hợp tác vì trường này có danh tiếng trong lĩnh vực đào tạo HĐTL.

Các kết quả đạt được

Sau gần một năm thực hiện dự án, chúng tôi đã đạt được các kết quả sau đây:

  • Gửi một nhóm 4 giảng viên đại học Y dược tham gia khoá đào tạo 1 tháng về Hoạt động trị liệu tại Đại học tổng hợp Manipal ở Ấn Độ.
  • Gửi một nhóm 5 Chuyên gia trị liệu tham gia khoá học tiếng Anh và khoá Cử nhân về Hoạt động trị liệu tại Đại học tổng hợp Manipal ở Ấn Độ.
  • Gửi một nhóm 6 thành viên chủ chốt từ Bộ Y tế, Đại học Y Hải Dương và Đại học y dược Thành phố Hồ Chí Minh tham quan học tập về Hoạt động trị liệu tại Đại học tổng hợp Manipal ở Ấn Độ.
  • Phát triển khung chương trình đào tạo cử nhân cho các khoá học bán thời gian và toàn thời gian
  • Xây dựng giáo án cho chương trình đào tạo cử nhân sẽ được thí điểm tại đại học Y Hải Dương và Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2017.

Hoạt động trị liệu (HĐTL) là dùng các đánh giá và điều trị để phát triển, phục hồi, hoặc duy trì các kỹ năng sống và công việc hàng ngày của những người có rối loạn về thể chất, tinh thần, hoặc nhận thức.

Kỹ thuật viên HĐTL cũng tập trung nhiều vào việc xác định và loại bỏ các rào cản của môi trường đến sự độc lập và tham gia của NKT vào các hoạt động hàng ngày của họ. [1] Kỹ thuật viên HĐTL lấy khách hàng làm trung tâm, chú trọng vào tiến trình hướng tới mục tiêu của khách hàng. [2] Can thiệp của kỹ thuật viên HĐTL tập trung vào việc cải thiện môi trường, điều chỉnh công việc, hướng dẫn các kỹ năng, tư vấn cho NKT/gia đình để cải thiện việc thực hiện và sự tham gia của họ vào các hoạt động hàng ngày, đặc biệt là những hoạt động có ý nghĩa với NKT. Kỹ thuật viên HĐTL thường xuyên làm việc chặt chẽ với các kỹ thuật viên vật lý trị liệu, ngôn ngữ trị liệu, điều dưỡng viên, nhân viên công tác xã hội và cộng đồng trong khi hỗ trợ cho NKT.

(nguồn: Wikipedia)

Read more

Chăm sóc sức khỏe tâm thần

Bối cảnh

Rối loạn sức khỏe tâm thần chiếm một phần lớn trong gánh nặng bệnh tật toàn cầu. Chính sách và dịch vụ chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam hiện còn ít quan tâm đến sức khỏe tâm thần. Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Sức khỏe Tâm thần thuộc Bộ Y Tế đã cung cấp chăm sóc y tế miễn phí ở hầu hết các địa bàn ở Việt Nam nhưng hầu như chỉ tập trung vào bệnh tâm thần phân liệt và bệnh động kinh, và có một số khu vực thí điểm về bệnh trầm cảm. Bên cạnh đó, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã có chương trình tập trung vào việc hỗ trợ xã hội đối với những người có vấn đề về sức khỏe tâm thần. Mặc dù đã có những chương trình hỗ trợ này, nhưng những bệnh nhân tâm thần phân liệt, động kinh và trầm cảm, và gia đình của họ vẫn còn chưa ý thức được những khả năng chăm sóc, điều trị và đồng thời vẫn bị kì thị từ cộng đồng.

Vấn đề

Ở hầu hết các tỉnh nông thôn như Quảng Trị và Phú Yên ở Việt Nam, chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần còn hạn chế từ cấp tỉnh cho đến cấp thôn. Nhân viên y tế, đặc biệt là Y tế thôn bản, thiếu kiến thức, kinh nghiệm và thái độ làm việc với bệnh nhân tâm thần. Việc khám sàng lọc và phát hiện sớm còn rất hạn chế, không có giáo dục nâng cao sức khỏe tâm thần và hỗ trợ tâm lý. Giáo trình đào tạo về sức khỏe tâm thần tại các trường y tế không được cập nhập thường xuyên. Nếu không có sự tư vấn hoặc chăm sóc tại nhà trong cộng đồng, bệnh nhân tâm thần vẫn tự mặc cảm hoặc bị cộng đồng kì thị

Vai trò của MCNV

Với mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống cho những người có vấn đề về sức khỏe tâm thần và gia đình họ, MCNV đã hợp tác với tổ chức phi chính phủ quốc tế Sáng kiến Toàn cầu về Tâm thần học (GIP) và các đơn vị y tế cấp tỉnh để bước đầu thực hiện mô hình chăm sóc sức khỏe tâm thần dựa vào cộng đồng ở huyện Hướng Hóa và Vĩnh Linh thuộc tỉnh Quảng Trị, và huyện Sơn Hòa thuộc tỉnh Phú Yên.

Hoạt động đầu tiên là phát triển năng lực về chăm sóc sức khỏe tâm thần cho nhân viên y tế, từ cấp thôn đến cấp tỉnh đặc biệt là cấp xã và cấp thôn. Việc phát triển năng lực được thực hiện thông qua các giảng viên tại các Trường đại học y tế thông qua các hội thảo tập huấn, tham quan học tập và huấn luyện bởi các bác sĩ từ bệnh viện tâm thần Đà Nẵng. Chúng tôi đã tập huấn về kiến thức cơ bản và khả năng phát hiện, điều trị và phục hồi chức năng cho bệnh nhân tâm thần cũng như sử dụng các công cụ sàng lọc sức khỏe tâm thần tại cộng đồng. Sau đó, các nhóm tự lực của gia đình có người rối loạn tâm thần được thành lập thông qua Hội người khuyết tật để các bệnh nhân tâm thần và gia đình họ có thể gặp gỡ chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau trong quá trình chăm sóc người bệnh.

Tiếp đó, MCNV hỗ trợ các kế hoạch phát triển cá nhân cho người rối loạn tâm thần. Những kế hoạch này dựa vào tình trạng của từng cá nhân nhằm mục đích điều trị toàn diện, hòa nhập xã hội và nâng cao điều kiện sống của họ.

Các nhân viên y tế thôn bản được tập huấn và hướng dẫn để họ có khả năng thực hiện việc thay đổi hành vi giao tiếp bằng cách sử dụng các phương pháp sáng tạo (chẳng hạn như phim hoặc kịch rối) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về sức khỏe tâm thần và giảm sự kì thị cũng như phân biệt đối xử mà những người bệnh vẫn phải đối mặt.

Kết quả đạt được

Kết quả từ một số nghiên cứu bởi các sinh viên Hà Lan chỉ ra rằng những cán bộ y tế được tập huấn đã nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ, họ có khả năng chăm sóc tại nhà và tư vấn cho người bệnh tâm thần.

Những nhân viên y tế thôn bản được tập huấn đã sử dụng công cụ chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới (SQR – WHO 1994) để sàng lọc 12,008 người độ tuổi từ 18 đến 65, trong số đó đã phát hiện 755 người có nguy cơ về sức khỏe tâm thần. Gần 100 người trong số đó được điều trị và tư vấn. Kết quả này đã cho thấy nhiều người được tiếp cận với chương trình sức khỏe tâm thần quốc gia hơn và bây giờ đã có thể được tiếp cận đầy đủ hơn các chăm sóc sức khỏe tâm thần phù hợp.

Sáu nhóm gia đình có người rối loạn tâm thần gồm có hơn 120 gia đình với bệnh nhân tâm thần, những người này đã cho thấy sự cải thiện trong quá trình điều trị của họ, đã nhận được hỗ trợ xã hội và ít bị kì thị hơn trong cộng đồng. Gánh nặng của gia đình trong chăm sóc người bệnh đã giảm nhờ sự thay đổi tích cực trong hành vi của bệnh nhân tâm thần và uống thuốc đêu đặn dưới sự hỗ trợ của gia đình.

“Cảm ơn sự hỗ trợ của MCNV, em trai tôi bây giờ uống thuốc rất đều. Cậu ấy thường xem tivi, gánh nước cho gia đình bất cứ khi nào đi ra suối để tắm. Em tôi có thể chăn trâu và dê. Mọi người trong làng đều vui khi thấy em đã hồi phục, thỉnh thoảng họ nói chuyện với em, những đứa trẻ rủ em cùng chơi bóng đá với chúng.

Hai năm trước, chúng tôi đã nhốt em trong một cái cũi gỗ. Chúng tôi đặt thức ăn và nước uống trong cũi 2 lần một ngày, em ấy chỉ ăn khi nào muốn. Em vệ sinh cá nhân trong cũi và chúng tôi đưa em đi tắm mỗi tháng một lần. Mỗi lần được ra ngoài, em rất vui và cầu xin chúng tôi đừng khóa em trong cũi nữa.”

Trên đây là lời của Hồ Văn Kun, anh trai của Ken, một bệnh nhân tâm thần ở Xã Xy, Hướng Hóa, Quảng Trị

Định hướng tương lai

Chương trình chăm sóc sức khỏe tâm thần dựa vào cộng đồng đã cho thấy sự hiệu quả trong việc giúp đỡ các bệnh nhân tâm thần và gia đình ở những vùng nông thôn ở Việt Nam. Nếu có thêm kinh phí, chúng tôi sẽ mở rộng can thiệp để hỗ trợ 6,800 bệnh nhân tâm thần ở nhiều xã hơn tại Phú Yên và Quảng Trị.

Những bài học kinh nghiệm từ dự án này sẽ được tài liệu hóa chia sẻ với các cơ quan, tổ chức liên quan như BasicNeeds, hội nghị ALHA, và các nhà hoạch định chính sách y tế tại Việt Nam nhằm hướng đến những tác động lâu dài và rộng lớn hơn đối với những người có vấn đề về sức khỏe tâm thần ở Việt Nam nói chung.

Read more